Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học tham vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học tham vấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Nhà tham vấn làm gì?

 (Tư vấn Khai Tâm) Câu hỏi đối với nhiều người người là Nhà tham vấn không phải là người cho lời khuyên hay cố vấn? Vậy nhà tham vấn làm gì? Dưới đây xin được chỉ ra một số điều mà nhà tham vấn hay phải làm:

                                                   

- Lắng nghe thân chủ, để thân chủ làm chủ quá trình nói chuyện trong các cuộc gặp gỡ tham vấn.
- Sử dụng các kỹ năng giao tiếp cụ thể để “khai thác” các cảm giác, trải nghiệm, ý nghĩ và quan điểm của thân chủ, và tập hợp các thông tin giúp thân chủ hiểu rõ về cảnh huống của họ.
- Thể hiện sự thông cảm và thấu hiểu với thân chủ, làm việc với họ để xác định các bước họ có thể thực hiện để sống một cuộc sống lành mạnh hơn, có ích hơn. (Chú ý: Nhà tham vấn làm việc với mà không phải là cho thân chủ trong mối quan hệ hỗ trợ. Cả hai bên cùng chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các mục tiêu của tham vấn).
- Giúp thân chủ hiểu được các sự kiện trong quá khứ có thể đã góp phần vào các vấn đề hiện tại, giúp thân chủ suy nghĩ và xử sự theo cách khác nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của các sự kiện trong quá khứ.
- Giúp thân chủ “ phân loại” các vấn đề trong cuộc sống của họ và hiểu sâu hơn về bản thân mình.
- Giúp thân chủ bày tỏ các cảm giác của họ và nhìn thấu được các cảm giác này tác động đến cách họ suy nghĩ, xử sự, và ra các quyết định như thế nào . Chẳng hạn, nhiều trẻ có vấn đề về hành vi, thường dùng các hành vi tiêu cực như là một cách để đối mặt với các cảm giác giận dữ bị kìm nén; nhà tham vấn có thể giúp những trẻ này sử dụng các cách khác, ít tiêu cực hơn để giải toả các cảm giác đó.

Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại 
Trung tâm tư vấn tâm lý và Giáo dục phát triển cộng đồng Khai Tâm.
Địa chỉ số 133-135 đường Bến phà cũ, tổ 4 phường Nông tiến, TP Tuyên Quang
Email. drkhaitam@gmail.com
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900.88.66.83

Tham vấn không giống như một cuộc trò chuyện hoặc một quan hệ bằng hữu

 (Tư vấn Khai Tâm) Nhà tham vấn phải luôn luôn tôn trọng các ranh giới chuyên môn giữa thân chủ và nhà tham vấn. Ví dụ, giống như những người chuyên nghiệp hỗ trợ khác (bác sĩ, luật sư), nhà tham vấn không xây dựng “quan hệ bằng hữu” với thân chủ của mình. Vì sao vậy?   

                                                                                              

Lý do thứ nhất là mọi người dường như khó có thể khách quan với những người bạn của mình. Nếu không có tính khách quan chuyên nghiệp, nhà tham vấn không thể trở thành những người giúp đỡ có hiệu quả.

Một lý do quan trọng khác là quan hệ bằng hữu luôn mang tính tương hỗ; mọi người dựa vào những người bạn của mình khi gặp khó khăn và ngược lại. Chúng ta chọn những người bạn cho mình vì chúng ta quý mến họ và/hoặc chúng ta tìm thấy sự vui vẻ trong những quan hệ đó. Khi nói chuyện hoặc tham gia vào các cuộc đàm luận với bạn bè, một người có thể “độc chiếm”cuộc đàm thoại với những chuyện vặt vãnh về họ hoặc có thể chuyển sang một đề tài khác không mấy thú vị, và chuyển sang một người nào đó.

Ngược lại, các nhà tham vấn đặt các nhu cầu của mình sang một bên và chỉ tập trung vào (các) thân chủ. Việc các nhà tham vấn giữ được sự khách quan và không “trông đợi” gì từ phía thân chủ là rất cần thiết (giống như việc chúng ta có thể trông đợi từ những bạn bè của mình).

Nhà tham vấn không bao giờ áp đặt những gì họ cho là tốt nhất cho thân chủ (giống như chúng ta thường làm đối với bạn bè hoặc người thân trong gia đình).

Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại 
Trung tâm tư vấn tâm lý và Giáo dục phát triển cộng đồng Khai Tâm.
Địa chỉ số 133-135 đường Bến phà cũ, tổ 4 phường Nông tiến, TP Tuyên Quang
Email. drkhaitam@gmail.com
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900.88.66.83

Nguồn gốc của từ tư vấn


(Tư vấn Khai Tâm) Hiện nay, các hoạt động tư vấn trong xã hội đã tạo ra rất nhiều thuận lợi trong việc nâng cao tri thức, mở rộng tầm nhìn, và giao lưu tin tức của con người. Rà xét trong sách vở cổ, tư vấn đã có từ xưa.
                                                                    Trong Tam quốc chí * Thục chí* Hậu Chúa thái tử toàn truyện, có ghi: Tháng riêng năm Diên Hy nguyên niên, Thục Hậu Chủ, lập Lưu Toàn làm hoàng thái tử, kế sách có câu: “Tư tuần điển lễ, kính hữu sư phụ, châm chước chúng thiện, dực thành nhĩ đức” (Tư vấn điển lễ, kính trọng thân thiết với thày dạy, suy nghĩ cân nhắc những điều thiện, sau này sẽ trở thành đức hạnh của ngươi). Như thế, từ “Tư tuần” đã có từ thời Tam Quốc.

Sớm hơn chút nữa, ta đã thấy từ này trong Cửu tự* Tật thế của Vương Dật, nhà văn thời Đông Hán: “Phân tải khu hề cao trì, tương tri tuần hề Hoàng hi”. Cuốn Từ nguyên do Thương vụ ấn thư quán xuất bản, căn cứ vào đấy và cho rằng đây là xuất xứ sớm nhất của từ “tư tuần”, thực ra không phải thế. Trong Tả truyện* Tương Công tứ niên viết xong vào năm đầu Chiến Quốc đã có câu: “Phỏng vấn vu thiện hữu tư, tư thân vi tuần” (Hỏi han người giỏi bàn bạc, hỏi người thân là tuần). Xuân thu tả truyện từ điển (do nhóm Dương Bá Tuấn biên soạn) đã giải thích: “tư” là “tư tuần”.

Tìm ngược lên nguồn gốc ban đầu, xuất xứ sớm nhất của từ “tư tuần” là ở chương năm trong Kinh Thi* Tiểu nhã* Hoàng hoàng giả hoa: “Tải trì tải khu, Chu viên tư tuần”. (Rong ruổi khắp nơi, hỏi khắp mọi nơi). Đây là bài thơ vua sai sứ thần, hàm nghĩa là, sứ thần phải tận tâm thăm hỏi, quan sát nỗi khổ trong dân gian để tâu lên nhà vua.

Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại 
Trung tâm tư vấn tâm lý và Giáo dục phát triển cộng đồng Khai Tâm.
Địa chỉ số 133-135 đường Bến phà cũ, tổ 4 phường Nông tiến, TP Tuyên Quang
Email. drkhaitam@gmail.com
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900.88.66.83

Tâm lý trị liệu là gì?

 (Tư vấn Khai Tâm) Từ điển Wikipedia định nghĩa “Tâm lý trị liệu” (psychotherapy) là một hệ thống các kỹ thuật được thực hiện nhằm cải thiện sức khỏe tinh thần cải thiện các vấn đề cảm xúc và hành vi của các cá nhân – những người được gọi là “thân chủ”.

                                                                                                       

Những vấn đề này thường khiến cho con người cảm thấy khó khăn trong việc tự quản lý cuộc sống và đạt đến các mục đích mong muốn của mình. Tâm lý trị liệu nhắm đến giải quyết các vấn đề này, thông qua một số những phương pháp và kỹ thuật khác nhau; và chúng được thực hiện bởi những người gọi là “nhà trị liệu” (những chuyên viên được đào tạo về tâm lý trị liệu).

Các cuộc trị liệu thường bao gồm một (hoặc vài) nhà trị liệu và một (hoặc nhiều) thân chủ. Họ gặp nhau để bàn bạc, trao đổi, phát hiện ra những vấn đề gì mà thân chủ đang gặp phải và tìm kiếm cách thức nào để giải quyết chúng. Do những đề tài được bàn bạc trong các buổi trị liệu thường có tính chất nhạy cảm, nhà trị liệu phải có trách nhiệm (thường được pháp luật qui định) tôn trọng tính riêng tư và sự bảo mật cho thân chủ của mình.

Tâm lý trị liệu là phương pháp chữa trị các vấn đề tâm lý chủ yếu bằng phương pháp sử dụng lời nói hoặc các công cụ giao tiếp khác giữa nhà trị liệu và thân chủ. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, những người làm tâm lý trị liệu phải được đào tạo, cấp bằng và cấp phép hành nghề. Nhà tâm lý trị liệu có thể xuất thân từ những chuyên ngành khác nhau: có thể là nhà tâm lý, bác sĩ tâm thần, nhà phân tâm, nhân viên xã hội, điều dưỡng viên tâm thần hoặc các chuyên viên khác đang làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tinh thần.

Trong quyển Tự Điển Bách Khoa Y Học Anh-Việt xuất bản năm 2005 (Chủ biên: GS Ngô Gia Hy – NXB Y Học Tp.HCM) có định nghĩa về tâm lý trị liệu (còn gọi là tâm lý liệu pháp) như sau: “Điều trị các vấn đề tâm lý, cảm xúc bằng các phương pháp tâm lý. Trong tâm lý liệu pháp, bệnh nhân trò chuyện với nhà trị liệu về các triệu chứng và các vấn đề mà họ mắc phải và thiết lập mối quan hệ giữa bệnh nhân và nhà trị liệu. Mục đích của quá trình này là giúp bệnh nhân tìm hiểu chính họ, tạo nên một cái nhìn mới về các mối quan hệ trong quá khứ và hiện tại, thay đổi những hành vi đã định hình của người bệnh” (Sách đã dẫn – tr.784).

Tâm lý trị liệu thực sự không phải là việc gì đó quá mới mẻ, xa lạ hoặc vượt quá tầm hiểu biết của tất cả chúng ta. Theo Alexander (Individual Psychotherapy; 1964):

Bất kỳ ai đang cố gắng cảm thông với một người bạn đang đau khổ hoặc cố trấn an một đứa trẻ đang hoảng sợ, thì cũng có thể xem người ấy đang thực hành tâm lý trị liệu. Người đó đang cố gắng vận dụng các phương thức tương tác về mặt tâm lý để bảo tồn trạng thái thăng bằng về mặt cảm xúc ở một người khác. Những cách thức thông thường này chủ yếu được dựa trên những sự hiểu biết có tính trực giác hơn là sự hiểu biết có tính khoa học. Khi bạn đang nói chuyện với ai đó đang có tâm trạng phiền muộn, bạn cũng có thể tự nhiên hiểu được tác dụng tốt của việc giúp cho người ấy giải tỏa cảm xúc. Với một người đang trong trạng thái hoảng sợ, quẫn trí, bạn cũng có thể (bằng sự hiểu biết có tính trực giác) mang đến cho người ấy sự hỗ trợ về mặt cảm xúc bằng những lời khuyên và một thái độ vững chãi để người ấy có thể tin tưởng nương tựa vào bạn. Bạn vốn cũng có thể đã biết rằng khi một người đang bị chìm ngập trong một tình huống có tính nguy hiểm, đáng sợ thì người ấy không thể sử dụng được lý trí của mình một cách hiệu quả, và bạn cần giúp anh ta ổn định bằng cách nâng đỡ về mặt tâm lý. Trong lúc nói chuyện với người ấy về hoàn cảnh khách quan mà anh ta đang đương đầu, bạn có thể cho anh ta ‘mượn’ công cụ lý trí của chính bạn để sử dụng. Khi làm tất cả những việc này, chúng ta đã thực hành một sự phối hợp giữa hai công việc có tính chất chữa trị, một là nâng đỡ (supportive), hai là thấu hiểu (insight).

Và Alexander đã định nghĩa tâm lý trị liệu “... không gì khác hơn ngoài việc áp dụng một cách có hệ thống, một cách có ý thức những phương pháp mà chúng ta áp dụng để ảnh hưởng lên những người sống xung quanh chúng ta trong cuộc sống thường ngày. Sự khác biệt quan trọng nhất là ở chỗ: nó không đơn thuần dựa trên những sự hiểu biết có tính trực giác mà thay vào đó là phải có sự thiết lập tốt các nguyên lý chung về tâm lý động học (psychodynamics)”. (Sđd. – tr.110).

Như vậy, khác với sự giúp đỡ từ một người thân quen thường gặp trong đời sống, “sự hỗ trợ trong tâm lý trị liệu được tiến hành bởi một nhà trị liệu được đào tạo chuyên nghiệp để có thể làm chức năng hỗ trợ người khác mà không nhất thiết phải trở nên gắn kết với thân chủ của mình về mặt đời sống riêng tư” (Goffman; 1962).

Tâm lý trị liệu, nói chung, nhắm đến việc làm tăng trưởng nhân cách một con người theo chiều hướng trưởng thành hơn, chín chắn hơn, và giúp người đó “tự hiện thực hóa bản thân mình”. Có thể tóm tắt một số mục tiêu chính của tâm lý trị liệu như sau:

1.Gia tăng khả năng thấu hiểu bản thân của thân chủ

2. Tìm kiếm giải pháp cho các xung đột

3. Gia tăng sự tự chấp nhận bản thân của thân chủ

4. Giúp thân chủ có những kỹ năng ứng phó hữu hiệu với những khó khăn

5. Giúp thân chủ củng cố một cái Tôi vững mạnh, toàn vẹn và an toàn

 James C. Coleman (Abnormal Psychology and Modern Life; 1950) nêu ra một số bước cơ bản trong tiến trình làm tâm lý trị liệu như sau:

- Tạo một bầu không khí quan hệ có tính trị liệu

- Giải tỏa cảm xúc của thân chủ

- Tạo sự thấu hiểu nơi thân chủ

- Giúp thân chủ định hình lại cảm xúc

- Kết thúc trị liệu

Từ thời cổ đại, Hippocrates (ông tổ của y học phương Tây) đã từng kể ra ba loại công cụ chủ yếu mà một người thầy thuốc có thể sử dụng để chữa bệnh, đó là: cây cỏ, con dao và lời nói. Từ cây cỏ có thể chiết xuất ra các dược liệu, từ con dao có thể cắt bỏ đi những phần cơ thể bị bệnh mà không thể giữ lại được, và từ đó đã dần dần hình thành nên các chuyên ngành nội khoa và ngoại khoa trong y khoa hiện đại. Song chỉ khi có sự hình thành và phát triển của ngành tâm lý học hiện đại và ngành tâm thần học hiện đại, giá trị của việc sử dụng lời nói trong chữa bệnh mới được phát huy thành một phương pháp trị liệu thực sự khoa học. Phương thức trị liệu ấy được một số nhà tiên phong trong lĩnh vực này (như Sigmund Freud chẳng hạn) gọi là “talking cure” nghĩa là sự chữa trị bệnh bằng lời nói – mà về sau trở thành chuyên ngành tâm lý trị liệu với rất nhiều trường phái và khuynh hướng khác nhau.

Điều gì đã giúp tạo nên hiệu quả của phép chữa trị ấy? Nhiều yếu tố giúp tạo nên hiệu quả của tâm lý trị liệu đã được nghiên cứu và thừa nhận như bản chất mối quan hệ trị liệu (Goldstein; 1962), sự hữu dụng của lời nói (Bernstein; 1965), lòng tin của người bệnh (hoặc thân chủ) đối với nhà trị liệu (Frank; 1961). Tuy vậy, tác động thực sự của tâm lý trị liệu vẫn còn là điều gây nhiều tranh cãi mãi cho đến hiện nay. Liệu rằng các cách thức chữa trị bằng lời nói có thực sự chữa trị được các chứng rối loạn tâm trí?

Trong thực tế, việc tranh luận về hiệu quả của tâm lý trị liệu phần lớn xảy ra trong giới chuyên môn, ngay cả giữa những người thực hành tâm lý trị liệu thuộc các trường phái và xu hướng khác nhau. Nhưng có lẽ sẽ thích hợp hơn nếu chúng ta xem xét tác động của tâm lý trị liệu từ góc nhìn và vị thế của người bệnh hoặc thân chủ. Thân chủ không “nhìn thấy” những học thuyết và lý luận của nhà trị liệu, mà “nhìn vào” hành vi và thái độ ứng xử của nhà trị liệu. Và vì thế việc ai là nhà trị liệu trở thành điều có khi còn quan trọng hơn cả việc nhà trị liệu áp dụng học thuyết nào, phương pháp nào... Thực vậy, nhà trị liệu là người ở vào vị thế có ảnh hưởng lên trên thân chủ, mà nếu không có sự ảnh hưởng này, việc trị liệu sẽ không còn giá trị. Do vậy tâm lý trị liệu có thể được xem là “nghệ thuật tạo sự khích lệ, và kế đó là sử dụng tầm ảnh hưởng của nhà trị liệu lên thân chủ của mình một cách thuần thục” (Micheal Franz Basch).

Mặt khác, người ta khó có thể xác định được hiệu quả của tâm lý trị liệu, mà thay vào đó chỉ có thể xem xét được hiệu năng của nó, tức là việc tâm lý trị liệu tạo khả năng để có thể đạt đến một kết quả mong muốn. Hay nói theo cách của Gregory Bateson: tâm lý trị liệu “cung cấp một sự khác biệt để tạo nên một sự khác biệt mới”. Nhà tâm lý trị liệu không giúp thay đổi những sự kiện trong thực tế khách quan, mà nhắm đến việc thay đổi những gì xảy ra trong thực tại chủ quan của người bệnh hoặc thân chủ. Nói một cách hình tượng thì “nhà trị liệu mang thân chủ đến một điểm mà ở đó họ không còn cảm thấy tuyệt vọng nữa” (Martin Seligman; 1975).

Có một sự mặc định trong việc hiểu rằng: nhà tâm lý trị liệu (psychotherapist) thì làm việc với những người bệnh, những người bị rối loạn chức năng của bộ máy tâm trí, còn các chuyên viên tư vấn (counselor) thì làm công việc giúp đỡ những người đang gặp các vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, cả hai công việc tư vấn và trị liệu tâm lý đều cùng chia sẻ chung những học thuyết, lý luận, kỹ năng và phương pháp. Theo Jessie Bernard (1969), “tư vấn tâm lý giúp con người của thân chủ trở lại hòa hợp với số phận của họ, điều chỉnh bản thân họ khi sống đối mặt với những thất bại và đau khổ. Nhưng nếu những thân chủ ấy có những ứng xử không tuân theo các chuẩn mực hoặc có những rối loạn tâm trí nghiêm trọng, thì việc giúp đỡ những thân chủ ấy sẽ thuộc trách nhiệm của nhà tâm lý trị liệu”.

Theo James Bugental, Ph.D.(www.psychotherapy.net):

Tâm lý trị liệu không làm việc trên những điều bạn suy nghĩ. Đó không hẳn là việc chữa lành một căn bệnh. Đó không phải là sự hướng dẫn của một nhà thông thái. Đó không phải là sự chia sẻ giữa hai người bạn thân. Đó cũng không phải là một quá trình học hỏi những kiến thức.

Tâm lý trị liệu không liên quan đến những điều bạn suy nghĩ. Đó là sự làm việc trên cách thức mà bạn suy nghĩ. Nó làm cho bạn chú ý đến cách thức mà bạn suy nghĩ. Nó phân biệt rõ giữa những điều bạn đang suy nghĩ đến và cách thức mà bạn thực hiện sự suy nghĩ ấy. Tâm lý trị liệu ít quan tâm đến việc tìm kiếm những nguyên nhân để giải thích những gì bạn đang làm, nó quan tâm đến việc khám phá ý nghĩa từ những việc mà bạn đang làm.

Tâm lý trị liệu không làm việc trên những điều bạn nghĩ. Nó liên quan đến cách thức mà bạn sống với những tình cảm của mình. Nó liên quan đến những quan điểm bạn áp dụng vào trong những mối quan hệ của bạn với những người xung quanh. Nó liên quan đến những điều bạn muốn đạt đến trong đời và cách thức mà bạn cố gắng để đạt đến những mục đích ấy. Nó liên quan đến các nguồn lực giúp đỡ để bạn có thể tìm thấy những tiềm năng thay đổi trong con người bạn.

Tâm lý trị liệu không liên quan đến điều bạn suy nghĩ là gì, nó liên quan đến cách thức mà bạn suy nghĩ...

Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại 
Trung tâm tư vấn tâm lý và Giáo dục phát triển cộng đồng Khai Tâm.
Địa chỉ số 133-135 đường Bến phà cũ, tổ 4 phường Nông tiến, TP Tuyên Quang
Email. drkhaitam@gmail.com
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900.88.66.83

Phân biệt vai trò của các nhà trị liệu chuyên nghiệp

(Tư vấn Khai Tâm) Trong trị liệu tâm lý, mối quan hệ giữa nhà trị liệu (thầy điều trị hay bác sỹ tâm lý) và người có rối nhiễu (người bệnh hay thân chủ) là mối quan hệ lâm sàng trên chủ thể, tức là xem thân chủ là một chủ thể trong tính đơn nhất, phát sinh rối nhiễu trong điều kiện lịch sử, tình huống và đang tiến triển.
Vì vậy việc xây dựng được mối quan hệ cởi mở, chia sẻ tin cậy và có hiểu biết cùng chủ động tham gia tích cực vào quá trình trị liệu là yếu tố cơ bản bảo đảm sự thành công của quá trình điều trị.

Nhà tâm lý trị liệu không làm việc đơn lẻ mà thường phối hợp với các chuyên gia y học (bác sỹ y khoa), bác sỹ tâm thần thành một ê kíp điều trị, tuy nhiên vai trò của mỗi thành viên trong ê kíp này là khác nhau.

Mặc dù mục tiêu của trị liệu có thể giống nhau nhưng vai trò của các nhà trị liệu chuyên nghiệp có những điểm khác nhau:

-Các nhà tư vấn thường là các nhà tâm lý chuyên nghiệp, họ có thể đưa ra những lời khuyên về các lĩnh vực: Định hướng nghề nghiệp, giáo dục con cái, xung đột gia đình, những vấn đề về học tập, lạm dụng thuốc…, những chuyên gia này thường làm việc ở các văn phòng tư vấn , các trung tâm nghiên cứu…

-Các bác sỹ tâm thần là những người được đào tạo tại các trường đại học y khoa, họ đi sâu vào chuyên khoa tâm thần trong những năm cuối của khóa học, có một số bác sỹ tâm thần được đào tạo chuyên biệt sau đại học với các vấn đề về rối loạn cảm xúc, rối loạn tâm trí…Tuy nhiên sự đào tạo của các bác sỹ tâm thần gắn liền nhiều hơn với cơ sở y sinh học của các vấn đề tâm lý và họ là nhà trị liệu duy nhất có quyền kê đơn thuốc hoặc tiến hành các liệu pháp y sinh học.

-Các nhà phân tâm học là những nhà trị liệu có bằng cấp bác sỹ hoặc tiến sỹ. Nhà phân tâm học thường hoàn thành chương trình đào tạo chuyên sâu sau đại học theo trường phái phân tâm, họ có những hiểu biết và kỹ thuật điều trị các rối nhiễu tâm trí theo cách tiếp cận phân tâm.

-Các nhà tâm lý lâm sàng lấy bằng cử nhân tâm lý, sau đó đi sâu vào phân ngành Tâm lý học lâm sang. Họ có kiến thức chuyên sâu về đánh giá, chẩn đoán và điều trị những rối nhiễu tâm lý hay rối loạn tâm trí. Họ lấy bằng thạc sỹ và qua khóa thực hành trị liệu tâm lý tại bệnh viện. Nhiều người đã đạt trình độ tiến sỹ (D. Psych), họ thường làm việc với các chuyên gia tâm thần tại các bệnh viện hay các trung tâm tư vấn, khám chữa bệnh. Tuy nhiên những nhà tâm lý học lâm sàng có những hiểu biết chuyên sâu hơn về tâm lý học, các kỹ năng đánh giá và nghiên cứu thường rộng hơn các nhà tâm thần học . Các kỹ năng trị liệu tâm lý cũng được đào tạo chuyên hơn các nhà tâm thần học (các nhà tâm lý lâm sàng có cái nhìn chủ thể - tức là đi sâu xem sét các cấu trúc, cơ chế tâm lý đằng sau những triệu chứng). Tuy nhiên càng ngày công việc của nhà tâm lý học lâm sàng và tâm thần học càng giống nhau hơn, họ thường cần đến nhau trong một chương trình can thiệp phối hợp để nâng cao hiệu quả điều trị.

Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại 
Trung tâm tư vấn tâm lý và Giáo dục phát triển cộng đồng Khai Tâm.
Địa chỉ số 133-135 đường Bến phà cũ, tổ 4 phường Nông tiến, TP Tuyên Quang
Email. drkhaitam@gmail.com
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900.88.66.83

Tham vấn không phải là cố vấn

(Tư vấn Khai Tâm) Ở Việt Nam vẫn có những sự nhầm lẫn về định nghĩa tham vấn và thuật ngữ thích hợp nên sử dụng để định danh nghề tham vấn. Thuật ngữ "tư vấn"hay "cố vấn" được sử dụng rộng rãi với nghĩa tham vấn, hiểu theo nghĩa đen là " consultant " người cung cấp sự hỗ trợ cho thân chủ (giống như trong hợp đồng kinh tế ).

Thuật ngữ "tham vấn" được sử dụng phổ biến hơn ở miền Nam, ngụ ý rằng yếu tố tâm lý giúp ích cho việc tăng cường khả năng cho thân chủ. Do đó thuật ngữ "tham vấn" tương đối phù hợp nhằm mô tả quá trình hỗ trợ của tham vấn vì nó biểu đạt chính xác hơn các kỹ năng, kiến thức và chuyên môn mà công việc đòi hỏi.
Nhà tham vấn thường bị hiểu nhầm như một người đưa ra những lời khuyên hoặc các gợi ý cho thân chủ để giải quyết các vấn đề của họ (giống như nhà cố vấn). Nhưng những cuộc giao tiếp giống kiểu cố vấn này hàm chứa một mối quan hệ “phụ thuộc” trong đó một “chuyên gia” "đầy hiểu biết" và "năng lực" sẽ cung cấp "cách giải quyết" vấn đề cho người kia, giống như một bác sĩ kê đơn thuốc cho bệnh nhân.

Việc đưa ra lời khuyên chuyển tải tới thân chủ một bức thông điệp rằng: "Tôi hiểu vấn đề của anh chị và xử lý nó tốt hơn anh/ chị. Anh/ chị không thể tự giải quyết vấn đề của mình". Nói thân chủ “nên”làm gì không chỉ làm họ chán nản mà còn thể hiện sự thiếu tôn trọng khả năng tự giải quyết vấn đề của thân chủ.

Nhiều vấn đề thân chủ trình bày mang tính chất tâm lý, nghĩa là cách thân chủ suy nghĩ và cảm nhận về bản thân họ và cuộc sống của họ đã tạo nên những khó khăn cho họ. Vì lý do này nên trong quá trình giúp đỡ, các hoạt động công tác xã hội như kết nối mọi người với các nguồn lực hoặc giúp đỡ họ tìm việc làm phải được thực hiện kèm theo tham vấn trực tiếp, nhằm giải quyết các vấn đề về tâm lý tình cảm của thân chủ.

Bất cứ ai cũng có thể đưa ra lời khuyên – việc đó không đòi hỏi quá trình tập huấn đặc biệt cũng như tính chất chuyên nghiệp. Tuy nhiên, tham vấn là một nghề nghiệp và là một quá trình giúp đỡ mọi người xác định và giải quyết các nguyên nhân “gốc rễ” của vấn đề họ đang gặp phải. Tham vấn được xây dựng dựa trên cơ sở kiến thức và các kỹ năng cụ thể. Khoá tập huấn này được thực hiện để giới thiệu một số kỹ năng cơ bản trong tham vấn nhằm giúp đỡ thân chủ tạo nên những thay đổi tích cực và lâu dài trong cuộc sống của họ.

Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại 
Trung tâm tư vấn tâm lý và Giáo dục phát triển cộng đồng Khai Tâm.
Địa chỉ số 133-135 đường Bến phà cũ, tổ 4 phường Nông tiến, TP Tuyên Quang
Email. drkhaitam@gmail.com
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900.88.66.83

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

Quan niệm về mối quan hệ giữa Nhân viên xã hội và Thân chủ

(Tư vấn Khai Tâm) Có rất nhiều quan niệm khác nhau về mối quan hệ này tồn tại trong các mô hình thực hành CTXH. Mối quan hệ được xem hiệu quả nhất là tiến trình tương tác hai chiều trao quyền cho TC. Sau đây là một vài quan niệm mang tính phổ biến về mối quan hệ này:


Biestek (1957) quan niệm mối quan hệ này là tiến trình tương tác của thái độ và xúc cảm giữa các nhân viên xã hội và TC với mục đích trợ giúp TC đạt được sự điều chỉnh tốt đẹp hơn giữa cá nhân TC và môi trường sống của mình.[1]

Salzberger-Wittenberg (1970) nhìn nhận mối quan hệ này cũng là một tiến trình hai chiều, ở đó cả hai đều có những tác động đến với nhau, và lý tưởng nhất là hai bên học hỏi và tạo sự thay đổi lẫn nhau trong cả tiến trình này. Sự thay đổi được nhìn nhận là tiến trình trao đổi qua lại, hai chiều, mọi sự biến đổi đều có những tác động và ảnh hưởng đến những giai đoạn tiếp theo của đời người.[2] 

Kadushin (1990) lập luận rằng mối quan hệ này được xem như là một cầu nối giao tiếp giữa hai người, ở đó sự thấu cảm và các hành động tự nhận thức là công cụ trung tâm để qua đó đọc được những sự tương đồng và khác biệt ẩn chứa bên trong của hai thế giới khác biệt này. [3] 

Đặc trưng của mối quan hệ này là rất quan trọng ở các lĩnh vực, các hoạt động sau trong mô hình thực hành CTXH [4]:

- Đánh giá

- Tạo nền tảng cho tạo dựng các công việc trong tương lai

- Sự trợ giúp cho các cá nhân đang gặp những khó khăn trong biểu đạt cái tôi, trong mối quan hệ với cá nhân khác, và với môi trường sống của họ,

- Được xem như là sự trợ giúp, hỗ trợ, và sự chăm sóc các cá nhân dễ bị tổn thương, và phụ thuộc vào các dịch vụ cụ thể;

- Được xem như là sự biện hộ, và sự hoà giải đối với những cá nhân đang trải nghiệm sự kỳ thị hoặc gặp khó khăn khi tiếp cận đến các dịch vụ và các nguồn lực;

- Được xem như một cách tiếp cận để níu giữ những sự lo âu trong những thời điểm chuyển tiếp của đời người hoặc qua những cơn khủng hoảng

- Là nền tảng để tạo dựng năng lực cá nhân

- Là hoạt động thực hành

Tài liệu tham khảo

[1] Biestek, F.P. (1957) The Casework Relationship, Loyola University Press, Chicago

[2] Salzberger-Wittenberg, A (1970), Psychoanalytic Insight and Relationships: A Kleinian Approach, Routledge & Kegan Paul Books, London

[3] Kadushin, A (1990) The Social Work Interview. A Guide for Human Service Professionals, 3rd edn. New York: Columbia University Press, NY.

[4] Trevithick, P. (2003). Effective relationship-based practice: A theoretical exploration. Journal of Social Work Practice, 17(2), 163-176.

Theo Trần Văn Kham, email: khamtv@ussh.edu.vn, http://kham.tv)

Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại 
Trung tâm tư vấn tâm lý và Giáo dục phát triển cộng đồng Khai Tâm.
Địa chỉ số 133-135 đường Bến phà cũ, tổ 4 phường Nông tiến, TP Tuyên Quang
Email. drkhaitam@gmail.com
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900.88.66.83

Những đóng góp của Tâm lý học Gestalt trong lĩnh vực trị liệu

(Tư vắn Khai Tâm) Những đóng góp của Tâm lý học Gestalt trong lĩnh vực trị liệu




Sơ qua sự hình thành trị liệu Gestalt

Người sáng lập: Frederick (Fritz) Perls. Nhưng người có công phát triển: Erving Polster và Miriam Poslter. Tiếp cận Gestalt là một loại hình trị liệu mang tính thực nghiệm, nhấn mạnh đến sự nhận thức hiện đang tồn tại trong khách hàng và quá trình tích hợp các mảnh vỡ của nhân cách. Trường phái này tập trung vào “cái gì” và “như thế nào” của hành vi và vào vai trò của những vướng mắc chưa được khơi thông từ quá khứ đối với sự kìm hãm phát triển các chức năng của người ở thời điểm thiện tại.

Triết lý và giả thuyết nền tảng

Triết lý Gestalt dựa trên cơ sở của triết lý hiện sinh và tâm lý học. Nó nhấn mạnh vào sự thống hợp của trí óc, thân thể và cảm xúc. Giả thiết nền tảng có nội dung là cá cá nhân phải chịu trách nhiệm về hành vi và những trải nghiệm của chính họ. Tiếp cận Gestalt được thiết kế nhằm giúp mọi người trải nghiệm những việc xảy ra tại thời điểm hiện tại và nhận thức được về những việc họ đang làm. Tiếp vận Gestalt mang tính thực nghiệm, ở đó khách hàng sẽ thắt chặt những điều họ đang tư duy, đang cảm thấy, và đang hành động lại với nhau khi họ tương tác với nhà trị liệu. Giả thiết cho rằng sự tiến triển nảy sinh thông qua tiếp xúc cá nhân hơn là thông qua các kỹ thuật hay diễn dịch của nhà trị liệu. Một giả thiết nền tảng nữa là khách hàng có khả năng khám phá, cảm nhận, nhận thức và diễn dịch những vấn đề của chính mình. Vì vậy, khách hàng tự chủ được tăng cường, khuyến khích và khách hàng được trông đợi đóng vai trò tích cực trong trị liệu.

Khái niệm chủ đạo

Những khái niệm chủ đạo có nội dung về khả năng chịu trách nhiệm, những sự việc đang hiện hữu, quá trình trải nghiệm trực tiếp (đối lập với những điều đã được nhắc tới), nhận thực của người, điều nên tránh, tìm kiếm những vướng mắc chưa được khơi thông từ quá khứ đang ẩn tàng trong hiện tại, và giải quyết những bế tắc. Những khái niệm khác gồm có năng lượng và chống năng lượng (ngăn cản sự chuyển tải năng lượng); tiếp xúc và phản tiếp xúc (không cho tương tác với nhau); ngôn ngữ cơ thể và những đầu mối phi ngôn ngữ; và các độ biểu hiện của cơ chế phòng vệ loạn thần kinh. Có 5 kênh đối kháng chủ chốt đang được thách thức trong trị liệu Gestalt đó là: Phóng nội, phóng chiếu, phản ánh ngược, hợp lưu, độ lệch (đánh lạc hướng).

Mục tiêu trị liệu

Kích thích khách hàng chuyển từ môi trường được hỗ trợ sang môi trường tự hỗ trợ và phải giúp khách hàng tăng cường và làm giàu sự nhận thức về trải nghiệm hiện hành, sự nhận thức này giúp khách hàng thoát ra khỏi những bế tắc của mình. Thông qua quá trình nhận thức, khách hàng có thể tìm lại được những khía cạnh đã bị chối bỏ của bản thân, qua đó giúp khách hàng tiến đến tái khẳng định lại những khía cạnh này.

Quan hệ trị liệu

Tiếp cận Gestalt nhấn mạnh đến quan hệ trị liệu “Ta và Mi” (Khách hàng và Nhà trị liệu). Tiêu điểm của trị liệu Gestalt không tập trung vào các kỹ thuật mà nhà trị liệu sử dụng nhưng tập trung vào nhà trị liệu với tư cách là một con người và vào những gì mà nhà trị liệu đang tiến hành. Nhà trị liệu giúp khách hàng trải nghiệm những cảm xúc của họ một cách hiệu quả nhất và để khách hàng tự diễn dịch vấn đề của mình. Nhà trị liệu không diễn dịch vấn đề giúp khách hàng nhưng lại tập trung vào “cái gì” và “như thế nào” của hành vi biểu hiện của khách hàng. Khách hàng xác định rõ những vướng mắc chưa được khơi thông từ quá khứ của mình đã ảnh hưởng đến những chức năng người hiện có của khách hàng bằng cách trải nghiệm lại những tình huống của quá khứ như thể họ đang sống trong hạnh phúc và hồi tưởng lại những gì đã qua.

Kỹ thuật và phương thức tiến hành

Rất nhiều kỹ thuật được thiết kế để tăng cường sự trải nghiệm trực tiếp và giải quyết những cảm xúc xung đột. Một cách lý tưởng, khi các kỹ thuật trị liệu đóng vai trò là điểm khởi đầu cho những đối thoại giữa khách hàng và nhà trị liệu. Những thực nghiệm này được xem như là nền tảng của quá trình học tập kinh nghiệm. Tiếp cận Gestalt nhấn mạnh đến sự đương đầu với những điều không nhất quán và cách thức mà dựa vào đó khách hàng trốn tránh trách nhiệm về những cảm xúc của mình. Khách hàng được mời tham gia vào trò chơi phân vai, nhưng phải đóng và diễn xuất tất cả các vai khác nhau và diễn xuất một mình ở những phân cực đối trọi của nhân vật, qua đó giúp khách có sự nhận thức lớn về những xung đột đang nổ ra trong tâm khảm họ. Để giúp trị liệu Gestalt có được sự ứng dụng hiệu quả thì rất cần thiết phải chuẩn bị cho khách hành về mọi mặt trước khi tham gia vào những buổi thực nghiệm này. Nếu khách hàng biểu hiện sự chống đối không tham gia thực nghiệm, thì đó là những dấu hiệu màu mỡ để cho nhà trị liệu khám phá, khai thác. Và nhà trị liệu rất cần tôn trọng sự khước từ này và không ép buộc thân chủ tham gia bất cứ thực nghiệm nào.

Tiếp cận Gestalt trong trị liệu rất phù hợp trong làm việc nhóm, nhưng cũng có thể được ứng dụng trong tham vấn cá nhân. Ngoài ra tiếp cận trị liệu Gestalt được ứng dụng trong đào tạo lớp cơ bản và thứ yếu. Để đưa ra được quyết định chọn lựa hợp lý các kỹ thuật trị liệu Gestalt cho từng ca cụ thể thì nhà trị liệu cần đặt những câu hỏi có những cụm từ “khi nào”, “với ai”, và “trong tình huống như thế nào?”. Những kỹ thuật trị liệu Gestalt ứng dụng rất có hiệu quả trong xã hội hóa cá nhân, tự chủ cá nhân, và gắn kết cá nhân. Nhưng nó lại rất ít tác dụng đối với những ca khách hàng đang ở trong trạng thái lo hãi (yếu về tinh thần) trầm trọng. Tuy nhiên, những kỹ thuật này có thể hữu ích trong làm việc với vợ chồng xung đột và gia đình có vấn đề. Những phương pháp của trị liệu Gestalt được xem như là những nhân tố mạnh mẽ để mở toang những cảm xúc và đưa khách hàng đi vào mạch giao thiệp với những trải nghiệm trọng tâm hiện hành của khách hàng.Bằng việc khuyến khích giao thiệp trực tiếp và bày tỏ cảm xúc, tiếp cận Gestalt không nhận mạnh vào vai trò của trí năng hóa trừu tượng vấn đề của khách hàng.

Tiếp cận Gestalt thừa nhận giá trị của các dữ kiện từ quá khứ là rất quan trọng giúp nhà trị liệu hiểu đúng các sự việc hiện tại. Tiếp cận trị liệu Gestalt tập trung vào nhận dạng sự phóng chiếu của khách hàng và nhận dạng sự khước từ không chấp nhận sự giúp đỡ của nhà trị liệu. Trị liệu Gestalt chú ý đến những thông điệp phi ngôn ngữ và thông điệp cơ thể. Nó nhấn mạnh vào những việc đang tiến hành và đang trải nghiệm, như là sự phản đối việc chỉ bàn luận suông vấn đề theo cách thứ rất thờ ơ. Tiếp cận Gestalt đóng góp cho chuyên ngành trị liệu triển vọng về tiến bộ và sự nâng cao, chứ không chỉ đơn thuần điều trị các chứng rối loạn. Phương pháp làm việc với giấc mơ là cách thức sáng tạo quen thuộc (con đường mòn sáng tạo) cho sự phát triển nhận thức về những thông điệp hiện sinh chính yếu trong cuộc sống.

Bên cạnh những đóng góp, thì trị liệu Gestalt còn một số giới hạn. Tiếp cận Gestalt có thể không đề cao trí năng ở một số điểm xác định mà ở đó các nhân tố nhận thức bị coi nhẹ. Dưới sự kiểm soát của một nhà trị liệu Gestalt có nghiệp vụ yếu thì các phương thức trị liệu có thể trở thành một chuỗi các bài tập mang tính máy móc và đằng sau những bài tập này nhà trị liệu với tư cách là một cá nhân có thể đang lẩn trốn. Hệ lý thuyết của trị liệu Gestalt còn nhiều điểm chưa được làm rõ, ít có tính thuyết phục. Hơn nữa có một khả năng rất dễ xảy ra là nhà trị liệu lôi kéo khách hàng tiếp nhận những kỹ thuật trị liệu có tác động mạnh. Hướng khắc phục những hạn chế căn bản trong đào tạo và trị liệu Gestalt cần có sự giám sát, cũng như phải có sự nội quan phần việc cảu nhà trị liệu (nhà trị liệu nghiêm túc giám sát phần việc của mình).

Kỹ thuật trị liệu của trường phái Gestalt qua kỹ thuật "chiếc ghế trống"

Trường phái Gestalt đưa ra nhiều kỹ thuật trị liệu có thể ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày đối với từng cá nhân hay nhóm nhỏ (lớp học, gia đình…). Ví dụ như: Kỹ thuật “chiếc ghế trống”, “giải mã giấc mơ”, Bài tập đối thoại, Kỹ thuật hoán vị, Bài luyện về tập diễn, bài tập phóng đại…. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một kỹ thuật mà mà thường được các nhà trị liệu sử dụng trong trị liệu cá nhân. Kỹ thuật này đã được nhiều nhà trị liệu đánh giá là nó đã mang lại những hiệu quả nhất định.

Kỹ thuật “chiếc ghế trống” 

Kỹ thuật này dùng cho 3 cấp độ ý thức đầu tiên và dùng cho người nhiễu tâm và không giới hạn độ tuổi. Kỹ thuật này được áp dụng với những người rơi vào tình huống có hai giải pháp mà không biết chọn giải pháp nào. 

Thực hiện kỹ thuật này có 6 giai đoạn:

1. Yêu cầu thân chủ nghĩ về những tình huống có tính đối lập gây ra sự bối rối cho thân chủ. Yêu cầu họ hình dung về những cảm giác của mình trong những tình huống đó. Sau đó nhà trị liệu đặt 2 chiếc ghế đối diện nhau và nói với thân chủ: “tình huống đó cũng hơi lạ, song anh hãy gắn hai trạng thái cảm xúc đó cho hai chiếc ghế. Ví dụ: một chiếc ghế tượng trưng cho nỗi tức giận, một ghế tượng trưng cho sự yêu thương”

2. Yêu cầu thân chủ lựa chọn một trong hai loại xúc cảm (thường là chọn loại xúc cảm nào mạnh hơn), sau đó yêu cầu thân chủ ngồi lên chiếc ghế đại diện cho loại xúc cảm đó (đại diện cho xúc cảm đã được lựa chọn). Khi thân chủ đã ngồi trên ghế thì nhà trị liệu yêu cầu thân chủ diễn tả cảm xúc của mình trong tình huống mâu thuẫn và nói to về cảm xúc đó. Ví dụ: “Tôi đang rất bực bội”.

3. Yêu cẩu thân chủ diễn tả cảm xúc của mình một cách thoải mái, để họ đi đến tận cùng cảm xúc đó.

4. Khi đã đạt được điều đó nhà trị liệu yêu cầu thân chủ ngồi sang ghế đối diện. Khi thân chủ đã chuyển sang ghế thức hai (ví dụ ghế tượng trưng cho sự yêu thương), nhà trị liệu yêu cầu thân chủ sống lại những tình cảm yêu thương, lòng vị tha của mình để bộc lộ hết các xúc cảm đó (tương tự như khi thân chủ ngồi ở ghế thứ nhất)

5. Sau đó, lại yêu cầu thân chủ quay về ghế thứ nhất để lại nói và bộc lộ hết những cảm xúc còn sót lại mà ghế thức nhất tượng trưng, rồi lại quay sang ghế thứ hai. Cứ làm như vậy cho đến khi hai loại cảm xúc này được bộc lộ hết. Sau khi bộc lộ hết các xúc cảm đã trải qua, thân chủ thường nói rằng họ cảm thấy nhẹ nhóm, rằng không ngờ đã có những xúc cảm như vậy.

6. Nhà trị liệu bàn bạc với thân chủ về các cảm xúc và yêu cầu thân chủ cố gắng diễn tả các cảm xúc của mình trong cuộc sống đời thường. Khi thân chủ có những xúc cảm khác nhau. Ví dụ vừa tức giận, vừa sợ hãi thì yêu cầu họ chỉ được chọn một loại xúc cảm. Sau đó mỗi lần tiếp xúc, nhà trị liệu lại yêu cầu mô tả kỹ lưỡng những xúc cảm của mình trong cuộc sống thường ngày. Thông thường sau đó thân chủ sẽ thay đổi cách ứng xử trong quan hệ với những người có liên quan trong cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn với ông bố anh ta có thể nói ý kiến của mình khi bố tức giận với mình… 

Ở lần gặp tiếp theo, nhà trị liệu yêu cầu thân chủ nói lại những thay đổi trong quan hệ của mình với bố. Nếu thân chủ vẫn còn bị ức chế thì nhà trị liệu yêu cầu anh ta nhớ lại những cảm xúc đã trải qua khi có quan hệ đó.

Triết lý trị liệu của trường phái thân chủ trọng tâm

(Tư vắn Khai Tâm) Liệu pháp thân chủ trọng tâm dựa vào niềm tin rằng chính thân chủ sẽ “chữa lành” bản thân họ và tạo nên sự tăng trưởng bản ngã của chính họ.





    Sự tăng trưởng và bình phục xảy ra từ bên trong con người của thân chủ, mặc dù các tiến trình bên ngòai có thể thúc đẩy hoặc trì hoãn việc tăng trưởng này. Có sự tương đồng giữa cây cỏ và trẻ em trong việc tự mình lớn lên, dù rằng người nông gia hoặc các bậc cha mẹ có thể giúp tạo thuận lợi hoặc làm chậm đi những tiến trình tăng trưởng này.

    Liệu pháp thân chủ trọng tâm có tính độc đáo ở chỗ nhấn mạnh vào tiềm năng tự bình phục của mỗi con người. Mặc dù những liệu pháp tâm lý khác cũng đồng ý về con người có những tiềm năng tích cực bên trong, nhưng các nhà trị liệu theo những trường phái khác lại không tin rằng thân chủ có thể tự mình sử dụng tiềm năng này nếu họ không có được sự hướng dẫn của nhà trị liệu. Điều này có thể do thân chủ quá mong muốn né tránh sự đau khổ để có được sự an toàn khiến cho họ cũng né tránh việc đối đầu với các vấn đề và làm cho các tiềm năng ấy bị tắc nghẽn; hoặc cũng có thể do họ bị vướng nắc vào những tư duy sai lầm mà họ chỉ có thể được “giải thoát” bởi nhà trị liệu. Nhà trị liệu trở thành “chuyên gia hướng dẫn” về Trái lại, công việc của một nhà trị liệu thân chủ trọng tâm là cung cấp một điều kiện tối ưu để thân chủ có thể vận hành những “khả năng tự tổ chức nội tại” và “khả năng tự vượt qua” (intrinsic self-organizing & self-transcending capacities). Trong điều kiện có tính hỗ trợ, lòng tin hướng đến tăng trưởng của thân chủ sẽ vượt qua khuynh hướng né tránh khổ đau. Con người có khả năng chịu đựng và đối đầu với những nỗi khổ đau lớn lao trong cuộc sống chừng nào mà họ cảm thấy có cơ hội làm chủ được các hoàn cảnh gây ra đau khổ cho họ. Chỉ khi cảm thấy bất lực họ mới tránh né đau khổ và tìm kiếm sự an tòan (Dweck & Leggett, 1988) hoặc khi họ cảm thấy không đủ khả năng đương đầu với đau khổ (Bandura, 1986).

    Nhà trị liệu không nhất thiết phải để thân chủ đương đầu với những trải nghiệm đau thương đã từng dồn nén rất sâu trong lòng, ví dụ những trải nghiệm bị xâm hại từ thời thơ ấu. Nếu những điều kiện an toàn mà nhà trị liệu mang lại giúp thân chủ bắt đầu phát triển một cảm nhận về khả năng bình phục và tăng trưởng của mình, họ sẽ dần dần mong muốn đối mặt với những trải ngiệm như thế nếu như họ thấy việc này là cần thiết để giúp họ có thể tiếp tục phát triển. Từ điểm mốc đó trở đi, những trải nghiệm đau thương ấy sẽ dần dần lộ diện như một phần của tiến trình tự bình phục.

    Nhà trị liệu theo trường phái thân chủ trọng tâm khởi đi từ vị trí của thân chủ vào lúc bắt đầu tiến trình trị liệu. Nếu vấn đề của thân chủ khiến họ cảm thấy nặng lòng triền miên, nhà trị liệu sẽ tập trung làm việc với họ về những gì mà họ đang bận tâm chứ không đánh giá rằng “có những vấn đề sâu xa hơn cần phải đối mặt”. Nhà trị liệu thân chủ trọng tâm tin vào khả năng của thân chủ trong việc tự định hướng và tự điều chỉnh bản thân. Đây là khía cạnh quan trọng nhất của việc trị liệu và thân chủ sẽ tự đi sâu hơn trong việc khám phá bản thân khi họ thấy đó là việc cần thiết.

Tìm hiểu Phương pháp xúc cảm thuần lý

(Tư vấn Khai Tâm) Phương pháp xúc cảm thuần lý (RET) do Albert Ellis (1902- 1994) xây dựng năm 1962 xuất phát từ niềm tin vào việc cho lời khuyên trực tiếp và giải thích trực tiếp hành vi cuả TC.



Phương pháp này bao gồm việc đối mặt và thách thức điều mà Ellis gọi là niềm tin phi lý, thuyết phục thân chủ thay thế những niềm tin khiến thân chủ nghĩ không tốt về bản thân hoặc khiến người ấy mang đầy những cảm nghĩ tiêu cực hoặc khó chịu.
Theo Ellis, vấn đề của TC ( những rỗi nhiễu xúc cảm) là do những niềm tin sai lệch hoặc những mong muốn thái quá, không phù hợp gây ra. Ông đã làm sáng tỏ những ý nghĩ và niềm tin phi lý mà theo ông là nguồn gốc gây nên phần lớn những ứng xử không thích ứng của chúng ta nói chung và của TC nói riêng . Những ý nghĩ và niềm tin phi lý đó là:1. Điều cơ bản là được mọi người tiếp xúc với ta yêu mến

Kiểu suy nghĩ tuyệt đối hoá

Đây là kiểu nhận thức mà chúng ta nhìn nhận sự kiện thiên lệch ở 2 đối cực, hoặc là tất cả hoặc là không có gì. Cách nghĩ điển hình là “Tôi luôn luôn làm tốt và chiếm được sự đồng tình, ủng hộ của người khác”; “ Người khác nên đối xử với tôi theo đúng cách mà tôi thích”...Thực tế trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng nhận được sự đồng tình của người khác. Khi không nhận được những điều này, chúng ta trở nên thất vọng tràn trề dẫn đến đổ vỡ niềm tin mà mình đã xây dựng nên.

Trầm trọng hoá, quan trọng vấn đề

Kiểu này liên quan đến việc người nào đó nhìn nhận một thất bại không đáng kể như một tai hoạ, một tổn thất lớn, dẫn đến mất niềm tin vào bản thân, người khác và xã hội.

Tự ám thị mình không có khả năng chịu đựng thất bại: 

Những người có kiểu tư duy này không có khả năng chịu đựng những hoàn cảnh không thuận lợi trong cuộc sống.

Cảm giác sự vô tích sự, vô giá trị của bản thân

Đây là biến thể của kiểu khái quát vội vàng, những người có kiểu nhận thức này thường tin rằng mình là kẻ vô tích sự hoặc không có khả năng gì.Ellis (1976) đã trình bày cách thức mà một hậu quả cảm xúc (C) phần lớn được cho là do 1 sự kiện thúc đẩy (A) nhưng thực ra là do con người tin tưởng (B) khi đối mặt với sự kiện thúc đẩy theo mô hình ABC khiến cho người ấy mang đầy những cảm nghĩ tiêu cực hoặc khó chịu.

Để thực hiện được mục đích trên, NTV phải có nhiệm vụ:

Khuyến khích , thuyết phục, chiều chuộng thúc đẩy TC tham gia vào các hoạt động đã làm cho họ chùn bước hoặc sợ hãi. Làm cho sáng tỏ các quá trình tư duy của TC, làm cho TC ý thức được điều gì không hợp lý khiến họ tri giác khách quan hơn các sự kiện, tìm ra những giải pháp mới làm giảm lo âu, thay thế các ứng xử không thích nghi bằng những ứng xử mới có thể làm cho mình sung sướng hơn do có khả năng hơn trong việc liên hệ được giữa những nhu cầu riêng với đòi hỏi của cuộc sống và môi trường luôn luôn thay đổi.Ellis đưa ra kỹ thuật tham vấn liên quan đến 5 bước cơ bản :

    Đầu tiên, NTV cần thuyết phục TC rằng họ đang có những ý nghĩ không hợp lý.Để có thể trợ giúp TC nhận diện được những suy nghĩ phi lôgic và những niềm tin bất hợp lý, Ellis đã phát triển các kỹ thuật tiếp cận TC đặc trưng sau:Mô hình ABC mối liên quan với sự hình thành nhân cách. Ellis tin rằng rất ít khi bản thân tình huống A gây ra stress (C) dẫn đến thất bại hoặc ứng xử thiếu thích nghi, mà phần lớn là do niềm tin (B) đã thấm sâu vào tình huống đó. 
    Vì vậy qua quá trình linh hoạt, trực tiếp trong đó NTV giúp TC xác định sự bất hợp lý trong suy nghĩ, trợ giúp TC trong việc chống chọi và thách thức những niềm tin phi lý. Ví dụ thay vì tôi nghĩ “Tôi chẳng là gì.”, “Tôi xấu.”; “Tôi không bao giờ tìm được người nào khác như người đó.”, TC có thể bắt đầu luyện tập để nói với chính mình rằng “Tôi có một số ưu điểm nhất định” , “ Tôi sẽ tìm được một người khác” trong một phương pháp linh hoạt để chống lại những ý nghĩa tiêu cực về bản thân.

Bài tập ở nhà về nhận thức

Phương pháp tham vấn của Ellis không chỉ kết thúc ở văn phòng tham vấn mà còn tạo điều kiện để TC có thể thực hiện một cách linh hoạt và chủ động việc cấu trúc lại nhận thức khi ở ngoài văn phòng tham vấn. Ellis gợi ý rằng TC nên tiếp tục chống lại những niềm tin phi lý, xác định những gì nên làm, phải làm để loại bỏ những suy nghĩ tuyệt đối hoá dẫn đến những niềm tin phi lý như vậy và liên tục làm việc để tổ chức lại suy nghĩ của họ sao cho chúng trở nên ít bị giới hạn và trở nên tự do hơn trong cuộc sống.

Đọc sách

Đọc sách là một kĩ thuật đặc biệt mà Ellis chứng minh rằng nó rất hữu ích cho việc trợ giúp TC thay đổi một cách chủ động những suy nghĩ và hành động về chính vấn đề của họ thông qua việc tự mình lĩnh hội kiến thức chính thống được trình bày trong sách báo.

Đóng vai

TC có thể thử về hành vi mới cả ở văn phòng lẫn ở nhà bằng việc đóng vai. Quá trình linh hoạt này giúp thách thức những niềm tin phi lý đang tồn tại và cung cấp một hệ thống hành vi bước đầu cho sự thay đổi tiếp sau.

Bài tập tấn công sự xấu hổ:

Ellis cho rằng các cá nhân thường xuyên quá bị ảnh hưởng bởi những vấn người khác nghĩ về họ. Để làm giảm sự ảnh hưởng này ông gợi ý rằng các cá nhân nên làm trái với những điều mang tính xã hội thông thường và luyện tập để tạo nên sự khác biệt. Điều này cho phép các cá nhân dẹp bỏ những điều nên làm và phải làm và hành động một cách tự do, thoải mái hơn.

Bài tập tưởng tưởng:

Ellis khuyến khích TC tưởng tượng bản thân họ muốn họ như thế nào.Sự tưởng tượng, đặc biệt kèm theo sự luyện tập hành vi, có thể làm thay đổi cách tồn tại của một cá nhân trên thế giới.Những kĩ thuật ứng xử: Ellis khuyến khích sử dụng bất kì kĩ thuật ứng xử nào có thể dễ dàng đưa lại sự thay đổi của TC. Những liệu pháp như điều kiện hoá thao tác, mẫu hành vi, luyện tập, kiểm soát bản thân, tràn ngập, chìm ngập của trường phái hành vi đều có thể được sử dụng trong REBT.

Những kĩ thuật xúc cảm:

Mặc dù rất tập trung vào nhận thức nhưng Ellis không quên vai trò của xúc cảm. Thay cho việc không tin rằng bản thân, tâm hồn thanh thản đã chứa đựng trong nó tác dụng chữa bệnh, Ellis cho rằng việc xem xét tình cảm và hiểu cảm xúc của một người nào đó có thể là kết quả của những suy nghĩ phi lí. Vì thế, Ellis khuyến khích TC đi sâu hơn vào những cảm xúc của họ trong sự nỗ lực tạo nên sự kiểm soát nghiêm túc bản thân với hệ thống niềm tin đã tồn tại của họ.REBT được đánh giá với những ưu và nhược điểm như sau:

Cách thức trợ giúp TC của REBT chỉ là thuyết phục họ thay đổi suy nghĩ và niềm tin phi lý trên cơ sở đưa ra những bằng chứng về sự phi lý nên có thể không đạt được hiệu quả bởi trên thực tế niềm tin của con người nói chung rất khó thay đổi và không phải lúc nào mọi suy nghĩ và niềm tin phi lý của con người cũng là nguyên nhân của những xúc cảm âu lo, hành vi bất thường ở họ.

Tiếp cận thân chủ theo phương pháp nhận thức

(Tư vấn Khai Tâm) Tiếp cận thân chủ theo phương pháp nhận thức quan niệm rằng con người không phải là sinh vật chủ yếu thụ động, duy nhất nằm dưới sự kiểm tra của môi trường. Cung cách con người phản ứng với các tình huống và các sự kiện gặp phải sinh ra từ sự hiểu biết và nhận thức về chúng.







Khi sự hiểu biết nhận thức dựa trên các niềm tin phi lý nó thường gây ra các hỗn loạn cảm xúc và các ứng xử không thích ứng. Nói cách khác đi, chính những ý nghĩ không hợp lý hoặc tai hại đứng trước các tình huống “hoạt hoá” phần lớn chịu trách nhiệm về các rỗi nhiễu hành vi.

    Ngoài ra theo Rotter (1966) cung cách cảm nhận cách ứng xử của chúng ta và hậu quả của chúng tuỳ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm nhân cách của chúng ta. Như vậy, một số người thường có xu hướng gán hành động của mình với các nguyên nhân từ bên trong,  một số người khác thì cho đó là nguyên nhân từ bên ngoài. Vậy hai kiểu người này khác nhau ở sự thực hiện việc kiểm soát hành động của họ, được Rotter phân biệt thành người hướng nội và hướng ngoại.

    Người hướng ngoại tin rằng ở mọi thời điểm họ đều có thể tác động lên môi trường và cuối cùng họ luôn chịu trách nhiệm về các điều xảy ra với họ. Đó là những người năng động, chủ động, có khuynh hướng phân tích các việc phải làm và nhìn nhận hoạt động nhằm phát hiện các yếu tố kém, các điểm mạnh của tình huống và hành động của họ. Khi thất bại họ không ngần ngại và tự buộc tội mình là thiếu cố gắng, thiếu kiên trì.
Ngược lại những người hướng nội lại cho rằng sự kiểm tra có từ bên ngoài các điều kiện khác nhau trong cuộc đời họ và cung cách họ thay đổi là do người khác hoặc do sự may mắn tình cờ. Đó là những con người thụ động hơn, kém khả năng, dễ dàng gán thất bại của mình do việc thiếu năng lực của bản thân.

    Từ những năm 1960, các tác giả như Albert Ellis, Aaron Beck, Donald Meichenbaum, Michael Mahoney đã phát triển lý thuyết về các phương pháp tiếp cận thân chủ của riêng mình theo trường phái TLH nhận thức và đã đưa tham vấn cũng như trị liệu nhận thức trở nên phổ biến trên thế giới.
    

    Gần đây một số NTV nhận thức đã chuyển sang quan điểm mang tính tích cực về cách con người suy nghĩ và tạo nên ý nghĩa của thế giới. Trong khi những NTV duy lý truyền thống theo trường phái nhận thức coi tham vấn nhận thức như một quá trình tiếp cận có bài bản liên quan đến việc thay thế những suy nghĩ không hợp lý thành những suy nghĩ hợp lý hơn thì những NTV có quan điểm tích cực lại cho rằng mỗi cá nhân là một thực thể phức tạp và phong phú, có thể có những động cơ vô thức để liên tục thích nghi nhận thức  trong những nỗ lực cố gắng tạo nên ý nghĩa của thế giới.

    NTV nhận thức truyền thống tin vào những suy nghĩ hợp lý hay không hợp lý của cá nhân từ khi sinh ra. Những khả năng suy nghĩ này được tăng cường qua thời gian được thiết lập và khó thay đổi hoặc mất đi. Mặc dù cảm xúc và hành vi có thể đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của cá nhân nhưng những NTV nhận thức truyền thống tập trung vào các quá trình suy nghĩ, tin rằng những suy nghĩ không hợp lý có thể được thay thế bằng những suy nghĩ hợp lý trong hầu hết các tình huống khẩn cấp.
    

    Còn những NTV có quan điểm tích cực nhấn  mạnh cách xây dựng thực tế của chúng ta dựa vào sự tương tác  phức tạp giữa suy nghĩ, hành động và cách cảm nhận thế giới với sự sáng tạo độc đáo của mỗi cá nhân tạo nên sự duy nhất trong hệ thống ý nghĩa của mỗi người.Hướng tiếp cận này quan niệm tham vấn là một nỗ lực để hiểu làm thế nào con người tạo ra ý nghĩa của cuộc sống, tìm cách can thiệp với cá nhân nhằm làm thay đổi hệ thống ý nghĩa được tạo ra của họ.
   

    Trong khi những người duy lý sử dụng giác quan , tính logic và những suy nghĩ hợp lý thông thường nhằm thay đổi nhận thức thì những người có quan điểm tích cực lại sử dụng các kỹ thuật như là  kể chuyện, lấy ví dụ, phân tích, sự gợi ý trừu tượng, vô thức  và các quá trình phức tạp khác để trợ giúp cá nhân thích nghi với một hệ thống ý nghĩa mới -  một giai đoạn  mới về thế giới mang tính thích nghi hơn.

    Mặc dù hai cách phát triển thuyết nhận thức nêu trên có một số điểm khác biệt nhưng nhìn chung chúng vẫn giống nhau ở nhiều khía cạnh, cho rằng cá nhân có thể thay đổi  và không bị quy định bởi kinh nghiệm thời thơ ấu, cách nhìn hiện tại của cá nhân về thế giới là chìa khoá tạo nên sự thay đổi. Cả cách hợp lý và cách thức đối chiếu nhìn nhận sâu sắc bản thân có sự phân tích ý nghĩa từ NTV đều cung cấp cho TC một quá trình thay đổi phức tạp trong những suy nghĩ không thực tế; phủ nhận quan niệm nhấn mạnh đến động cơ vô thức và các quá trình vô thức của Phân tâm học {40,95}.


    Mục đích của phương pháp tiếp cận nhận thức là NTV trợ giúp TC trong việc phân tích tình huống phải đối đầu, vạch ra những điều bất hợp lý  trong nhận thức để đi đến thay đổi chúng, giúp thân chủ thích nghi hơn với hoàn cảnh.
Phương pháp tiếp cận nhận thức có các phương pháp tiếp cận nhỏ sau đây:


- Phương pháp xúc cảm thuần lý của Ellis (RET, Rational Emotive Therapy)
Phương pháp xúc cảm thuần lý (RET) do Albert Ellis (1902- 1994)  xây dựng năm 1962 xuất phát từ niềm tin vào việc cho lời khuyên trực tiếp và giải thích trực tiếp hành vi cuả TC. Phương pháp này bao gồm việc đối mặt và thách thức  điều mà Ellis gọi là niềm tin phi lý, thuyết phục thân chủ thay thế những niềm tin khiến thân chủ nghĩ không tốt về bản thân hoặc khiến người ấy mang đầy những cảm nghĩ tiêu cực hoặc khó chịu.


Theo Ellis, vấn đề của TC ( những rỗi nhiễu xúc cảm) là do những niềm tin sai lệch hoặc những mong muốn thái quá, không phù hợp gây ra. Ông đã làm sáng tỏ những ý nghĩ và niềm tin phi lý mà theo ông là nguồn gốc gây nên phần lớn những ứng xử không thích ứng của chúng ta nói chung và của TC nói riêng . Những ý nghĩ và niềm tin phi lý đó là:


1. Điều cơ bản là được mọi người tiếp xúc với ta yêu mến
2. Điều quan trọng bậc nhất là lúc nào cũng giỏi dang, thích đáng, có khả năng làm tốt những việc mình làm.
3. Cuộc sống là tai  hoạ khi sự việc không đi đúng hướng mà ta mong muốn.
4. Những người muốn điều xấu cho ta phải luôn bị khiển trách hoặc trừng phạt
5. Giải pháp hoàn hảo lúc nào cũng cần có để chống lại những thực tế tệ hại của cuộc sống (Trích bảng 4.5, Những niềm tin phi lý {40,96}). 

    Những suy nghĩ và niềm tin này dựa trên những nhu cầu cơ bản được khắc sâu trong mỗi chúng ta (xem thuyết nhu cầu của Maslow) và thoả mãn chúng là cần thiết để chúng ta lai thăng bằng. Nhưng, một cách ngược đời, chính chúng ta lai gán cho các nhu cầu đó những giá trị sai lầm làm cho việc thực hiện chúng trở nên khó khăn hoặc không thể tiến hành được. Kết quả là bản thân chúng ta phải hứng chịu những rối loạn cảm xúc gây ra lo âu và gây nên phần lớn những ứng xử không thích hợp như :


Kiểu suy nghĩ tuyệt đối hoá: Đây là kiểu nhận thức mà chúng ta nhìn nhận sự kiện thiên lệch ở 2 đối cực, hoặc là tất cả hoặc là không có gì. Cách nghĩ điển hình là “Tôi luôn luôn làm tốt và chiếm được sự đồng tình, ủng hộ của người khác”; “ Người khác nên đối xử với tôi theo đúng cách mà tôi thích”...Thực tế trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng nhận được sự đồng tình của người khác. Khi không nhận được những điều này, chúng ta trở nên thất vọng tràn trề dẫn đến đổ vỡ niềm tin mà mình đã xây dựng nên.
 

Trầm trọng hoá, quan trọng vấn đề : Kiểu này liên quan đến việc người  nào đó nhìn nhận một thất bại không đáng kể như một tai hoạ, một tổn thất lớn, dẫn đến mất niềm tin vào bản thân, người khác và xã hội.
 

Tự ám thị mình không có khả năng chịu đựng thất bại: Những người có kiểu tư duy này không có khả năng chịu đựng những hoàn cảnh không thuận lợi trong cuộc sống.
Khái quát hoá một cách vội vã, thái quá: Là những người chỉ căn cứ vào một, hai biểu hiện đã vội vã kết luận, khái quát sai lệch hoặc không chính xác về sự kiện, hoàn cảnh xảy ra với mình.
 

Cảm giác sự vô tích sự, vô giá trị của bản thân:

Đây là biến thể của kiểu khái quát vội vàng, những người có kiểu nhận thức này thường tin rằng mình là kẻ vô tích sự hoặc không có khả năng gì. {13,144}
Ellis (1976) đã trình bày cách thức mà một hậu quả cảm xúc (C) phần lớn được cho là do 1 sự kiện thúc đẩy (A) nhưng thực ra là do con người tin tưởng (B) khi đối mặt với sự kiện thúc đẩy theo mô hình ABC khiến cho người ấy mang đầy những cảm nghĩ tiêu cực hoặc khó chịu


Mục đích của phương pháp là NTV cùng với TC phân tích tình huống phải đối đầu và rút ra kết luận về những suy nghĩ và niềm tin không hợp lý. Từ đó đi đến điều chỉnh những suy nghĩ và niềm tin không hợp lý này.
 

Để thực hiện được mục đích trên, NTV phải có nhiệm vụ:
Khuyến khích , thuyết phục, chiều chuộng thúc đẩy TC tham gia vào các hoạt động đã làm cho họ chùn bước hoặc sợ hãi {31,67}
Làm cho sáng tỏ các quá trình tư duy của TC, làm cho TC ý thức được điều gì không hợp lý khiến họ tri giác khách quan hơn các sự kiện, tìm ra những giải pháp mới làm giảm lo âu, thay thế các ứng xử không thích nghi bằng những ứng xử  mới có thể làm cho mình sung sướng hơn do có khả năng hơn trong việc liên hệ được giữa những nhu cầu riêng với đòi hỏi của cuộc sống và môi trường luôn luôn thay đổi.

Ellis đưa ra kỹ thuật tham vấn liên quan đến 5 bước cơ bản

Đầu tiên, NTV cần thuyết phục TC rằng họ đang có những ý nghĩ không hợp lý.
Thứ 2, NTV cần chỉ ra cho TC thấy cách họ đang duy trì những suy nghĩ phi lôgic và không hợp lý này.
Thứ 3, TC cần được học cách thách thức những niềm tin không hợp lý của họ.
Thứ 4, TC cần được biết làm cách nào các niềm tin phi lý lại được bản thân tiếp thu.
Thứ 5, TC cần phải hành động để phát triển  một cách sống hợp lý hơn trên thế giới.
Để có thể trợ giúp TC nhận diện được những suy nghĩ phi lôgic và những niềm tin bất hợp lý, Ellis đã phát triển các kỹ thuật tiếp cận TC đặc trưng sau:
Mô hình ABC mối liên quan với sự hình thành nhân cách. Ellis tin rằng rất ít khi bản thân tình huống A gây ra stress (C) dẫn đến thất bại hoặc ứng xử thiếu thích nghi, mà phần lớn là do niềm tin (B) đã thấm sâu vào tình huống đó. Vì vậy qua quá trình linh hoạt, trực tiếp trong đó NTV giúp TC xác định sự bất hợp lý trong suy nghĩ, trợ giúp TC trong việc chống chọi và thách thức những niềm tin phi lý. Ví dụ thay vì tôi nghĩ “Tôi chẳng là gì.”, “Tôi xấu.”; “Tôi không bao giờ tìm được người nào khác như người đó.”, TC có thể bắt đầu luyện tập để nói với chính mình rằng “Tôi có một số ưu điểm nhất định” , “ Tôi sẽ tìm được một người khác” trong một phương pháp linh hoạt để chống lại những ý nghĩa tiêu cực về bản thân.
 

Bài tập ở nhà về nhận thức: Phương pháp tham vấn của Ellis không chỉ kết thúc ở văn phòng tham vấn mà còn tạo điều kiện để TC có thể thực hiện một cách linh hoạt và chủ động việc cấu trúc lại nhận thức khi ở ngoài văn phòng tham vấn. Ellis gợi ý rằng TC nên tiếp tục chống lại những niềm tin phi lý, xác định những gì nên làm, phải làm để loại bỏ những suy nghĩ tuyệt đối hoá dẫn đến những niềm tin phi lý như vậy và liên tục làm việc để tổ chức lại suy nghĩ của họ sao cho chúng trở nên ít bị giới hạn và trở nên tự do hơn trong cuộc sống.

Đọc sách: Đọc sách là một kĩ thuật đặc biệt mà Ellis chứng minh rằng nó rất hữu ích cho việc trợ giúp TC thay đổi một cách chủ động những suy nghĩ và hành động về chính vấn đề của họ thông qua việc tự mình lĩnh hội kiến thức chính thống được trình bày trong sách báo.
Đóng vai: TC có thể thử về hành vi mới cả ở văn phòng lẫn ở nhà bằng  việc đóng vai. Quá trình linh hoạt này giúp thách thức những niềm tin phi lý đang tồn tại và cung cấp một hệ thống hành vi bước đầu cho sự thay đổi tiếp sau.

Bài tập tấn công sự xấu hổ: Ellis cho rằng các cá nhân thường xuyên quá bị ảnh hưởng bởi những vấn người khác nghĩ về họ. Để làm giảm sự ảnh hưởng này ông gợi ý rằng các cá nhân nên làm trái với những điều mang tính xã hội thông thường và luyện tập để tạo nên sự khác biệt. Điều này cho phép các cá nhân dẹp bỏ những điều nên làm và phải làm và hành động một cách tự do, thoải mái hơn.

Bài tập tưởng tượng: Ellis khuyến khích TC tưởng tượng bản thân họ muốn họ như thế nào.Sự tưởng tượng, đặc biệt kèm theo sự luyện tập hành vi, có thể làm thay đổi cách tồn tại của một cá nhân trên thế giới.
Những kĩ thuật ứng xử: Ellis khuyến khích sử dụng bất kì kĩ thuật ứng xử nào có thể dễ dàng đưa lại sự thay đổi của TC. Những liệu pháp như điều kiện hoá thao tác, mẫu hành vi, luyện tập, kiểm soát bản thân, tràn ngập, chìm ngập của trường phái hành vi đều có thể được sử dụng trong REBT.

Những kĩ thuật xúc cảm: Mặc dù rất tập trung vào nhận thức nhưng Ellis không quên vai trò của xúc cảm. Thay cho việc không tin rằng bản thân, tâm hồn thanh thản đã chứa đựng trong nó tác dụng chữa bệnh, Ellis cho rằng việc xem xét tình cảm và hiểu cảm xúc của một người nào đó có thể là kết quả của những suy nghĩ phi lí. Vì thế, Ellis khuyến khích TC đi sâu hơn vào những cảm xúc của họ trong sự nỗ lực tạo nên sự kiểm soát nghiêm túc bản thân với hệ thống niềm tin đã tồn tại của họ.
REBT là một phương pháp tiếp cận TC chủ động, linh hoạt, trực tiếp và mang tính giáo dục. Ellis không tin vào mối quan hệ  đòi hỏi những điều kiện thiết yếu và đầy đủ như C.Rogers đưa ra trong phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân. Đối với Ellis, điều quan trọng là niềm tin của TC vào triết lý của REBT, NTV chỉ bảo cho TC hoàn cảnh, cảm xúc, niềm tin, hậu quả của những suy nghĩ và khuyến khích TC đương đầu một cách chủ động với hoàn cảnh để đạt đến sự mới mẻ trong suy nghĩ và trong cuộc sống. Ellis tin rằng TC phải tạo được sự chuyển đổi từ việc là nạn nhân trong hoàn cảnh của chính mình trở thành người có thể kiểm soát được cuộc sống của bản thân, tạo nên sự thay đổi tích cực trong nhận thức và hành vi.
          REBT được đánh giá với những ưu và nhược điểm như sau:
Về ưu điểm:  REBT rất có hiệu quả đối với người lớn đặc biệt trong trường hợp bị trầm nhược hoặc bị rối nhiễu lo âu. REBT dễ áp dụng trong thực tiễn và dễ giải toả được những cảm xúc tức thời cho TC, giúp họ ứng phó tốt hơn với vấn đề hiện tại của bản thân.
Về nhược điểm: REBT không coi trọng hiệu quả của mối quan hệ giữa NTV và TC.  REBT ít có hiệu quả với những TC mà rối nhiễu cảm xúc của họ là do những mâu thuẫn, xung đột dồn nén từ lâu trong vô thức hoặc những TC bản thân đã tự nhận thức được sự phi lí trong suy nghĩ , niềm tin ám ảnh của mình nhưng không thay đổi được.

REBT không cho phép TC được chủ động khám phá bản thân nên chưa giúp TC tìm ra được những tiềm năng của bản thân.
Với REBT, TC chỉ có thể ứng phó với vấn đề hiện tại chứ  không có khả năng đương đầu với những khó khăn trong tương lai, do đó quá trình tham vấn không có hiệu quả triệt để.

Cách thức trợ giúp TC của REBT chỉ là thuyết phục họ thay đổi suy nghĩ và niềm tin phi lý trên cơ sở đưa ra những bằng chứng về sự phi lý nên có thể không đạt được hiệu quả bởi trên thực tế niềm tin của con người nói chung rất khó thay đổi và không phải lúc nào mọi suy nghĩ và niềm tin phi lý của con người cũng là nguyên nhân của những xúc cảm âu lo, hành vi bất thường ở họ.


Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

10 yêu cầu đối với Nhà tham vấn theo phương pháp tiếp cận Thân chủ - trọng tâm

(Tư vấn Khai Tâm) 10 yêu cầu đối với Nhà tham vấn theo phương pháp tiếp cận Thân chủ - trọng tâm

vo-lam-viec-7708_120_01








                      
                                                                                                                               1. Trung thực (congruent):

NTV phải thể hiện mình sao cho thân chủ nhận thức được anh ta (cô ta) là người "đáng tin cậy, chắc chắn, trung kiên", nghĩa là bất kỳ tình cảm hay thái độ nào NTV đang kinh nghiệm phải phù hợp với sự nhận thức của NTV về thái độ ấy. Khi điều đó xảy ra NTV là người đồng nhất hay nguyên vẹn vào lúc đó và thể hiện ra như NTV thật sự cảm thấy bên trong.


2. NTV phải diễn tả đầy đủ thông suốt để con người của mình có thể được truyền thông rõ ràng.

Khi NTV đang có thái độ phiền hà với một người khác những không ý thức được điều đó thì sự truyền thông của NTV chứa đựng những thông điệp trái nghịch nhau. Lúc đó có sự mâu thuẫn giữa lời nói và hành vi của NTV. NTV truyền đạt sự phiền hà cho TC, khiến cho TC mất tin tưởng mặc dù chính TC cũng chẳng ý thức được điều gì đang gây khó khăn giữa họ. Thất bại của NTV, theo C. Rogers là không nghe được điều gì đang xảy ra trong mình, có những phòng vệ của bản thân không cho mình nhận thấy tình cảm của chính mình.


3. NTV phải để mình trải nghiệm những thái độ tích cực với TC như thái độ nồng hậu, chăm sóc, ưa thích quan tâm.

Điều này hoàn toàn không dễ bởi con người nói chung thường sợ sệt những tình cảm này. Chúng ta sợ rằng nếu mình được tự do trải nghiệm những tình cảm này đối với người khác thì mình sẽ bị mắc bẫy trong đó. Chúng đi tới chỗ đòi hỏi chúng ta hoặc chúng ta có thể thất vọng trong sự tin tưởng của chúng ta. Để phản ứng lại chúng ta có khuynh hướng giữ một khoảng cách giữa chúng ta và người khác, tỏ ra xa vời một thái độ "chuyên nghiệp", một liên hệ vô cá tính. Và NTV sẽ thực sự thành công nếu trong những liên hệ vào đó hay ở vào thời điểm nào đó anh ta học hỏi được rằng cũng an toàn khi anh ta liên hệ với người khác như một người mà mình có những tình cảm tích cực.


4. NTV phải có nhân cách đủ mạnh để biệt lập với TC, biết tôn trọng vững vàng những tình cảm, những nhu cầu của mình cũng như của TC.

NTV, theo C. Rogers phải có đủ mạnh mẽ trong sự biệt lập của mình để khỏi bị chán nản bởi sự suy nhược của TC, xao xuyến bởi nỗi sợ hãi của TC và đắm chìm bởi sự lệ thuộc của TC. NTV phải đủ gan dạ để không bị nô lệ hoá bởi tình yêu của TC và vẫn tồn tại biệt lập với những tình cảm và quyền lợi của chính mình.


5. NTV phải thấy có đủ sự an tâm để cho phép TC biệt lập với chính mình, phải cho phép thân chủ được hiện ra như tâm trạng anh ta (cô ta) lúc ấy, thành thật hay giả dối, ấu trĩ hay trưởng thành, tuyệt vọng hay quá tự tin.

NTV phải để cho TC được tự do là mình chứ không phụ thuộc vào lời khuyên ở vị thế ít nhiều phụ thuộc, rập khuôn theo NTV. NTV có thể tác động tương trợ với TC qua nhiều buổi gặp gỡ mà không can thiệp vào tự do của TC để phát triển một nhân cách khác hẳn với nhân cách của NTV.


6. NTV phải tự để mình vào hẳn trong thế giới tình cảm và ý nghĩa riêng tư của TC và nhìn chúng như TC đã nhìn thấy.

NTV có thể bước vào thế giới riêng của TC toàn diện đến nỗi NTV mất hết ý muốn đánh giá hay xét đoán nó nữa. NTV có thể đi vào đó một cách nhạy cảm tới độ tự do đi lại mà không dẫm đạp lên những ý nghĩa hết sức quý giá đối với thân chủ. Như vậy NTV sẽ cảm thấy thế giới của TC chính xác đến nỗi không những bắt được những ý nghĩa của kinh nghiệm hiển nhiên đối với họ mà cả những ý nghĩa tiềm tàng mà chính TC cũng chỉ lờ mờ hay lẫn lộn. Trong tác phẩm của mình C. Rogers đã trích câu nói của một TC để minh hoạ cho hiệu quả của yêu cầu này đối với NTV: "Mỗi khi tôi thấy một người vào một lúc nào đó, hiểu một phần con người tôi, thì tôi không sao tránh khỏi cái lúc mà tôi biết rằng họ lại không hiểu tôi... Điều tôi khổ công tìm kiếm là một người hiểu được tôi".

7. NTV phải chấp nhận mỗi khía cạnh của TC y như con người TC để cho TC thấy NTV chấp nhận họ như họ đang hiện ra và truyền đạt thái độ này cho TC.

Nếu NTV chỉ có thể tiếp nhận TC một cách có điều kiện, chấp nhận một số mặt nào của những tình cảm và âm thầm công khai phải đối những mặt khác thì quá trình tham vấn sẽ không có hiệu quả bởi TC sẽ phòng vệ với NTV, do đó TC không thể thay đổi hoặc tăng trưởng trên những phương diện mà NTV không chấp nhận họ trọn vẹn.


8. NTV phải hành động với đầy đủ tinh tế trong mối quan hệ với TC để cho cách đối xử của NTV không bị xem như một đe doạ.

NTV phải tránh cho TC ngay cả những dọa nhỏ nhất không phải vì sự nhạy cảm quá độ với TC mà vì nếu NTV có thể giải thoát TC hoàn toàn khỏi những đe doạ bên ngoài thì TC có thể bắt đầu cảm được và đối phó với những xung đột nội tâm mà họ thấy bị đe doạ trong chính bản thận họ.


9. NTV phải giải thoát TC khỏi cái sợ bị người khác đánh giá.

Một sự đánh giá tích cực về lâu về dày cũng mang tính đe doạ như một đánh giá tiêu cực vì bảo cho một người biết là họ tốt ngụ ý rằng mình cũng có quyền nói họ xấu. Do đó, NTV càng giữ mối quan hệ ngoài vòng phê phán và đánh giá thì càng dễ cho TC đạt tới lúc nhận ra rằng khả năng và trách nhiệm nằm trong chính họ. Điều này sẽ giúp TC được tự do để trở thành người chịu trách nhiệm cho chính mình.


10. NTV phải coi TC như một người đang trong tiến trình trưởng thành chứ không bị trói buộc bởi quá khứ của TC và quá khứ của bản thân NTV. NTV sẽ hạn chế khả năng thay đổi của TC nếu trong cuộc gặp gỡ NTV đối xử với TC như một đứa bé ấu trĩ, một học sinh dốt hay một người bị bệnh thần kinh.

NTV phải thừa nhận tất cả tiềm năng của TC, nhận thấy trong họ, hiểu biết trong họ con người mà họ đã được tạo dựng để trưởng thành.
Những yêu cầu mà C. Rogers đưa ra đối với NTV đã đóng góp lớn lao cho việc xây dựng những phẩm chất đạo đức và nghề nghiệp cho nhà tham vấn và nghề tham vấn như trung thực, thấu cảm trọn vẹn, tôn trọng, chấp nhận TC, tin vào khả năng giải quyết của TC....

Thông tin chi tiết các bậc phụ huynh có thể tham khảo tại 
Trung tâm tư vấn tâm lý và Giáo dục phát triển cộng đồng Khai Tâm.
Địa chỉ số 133-135 đường Bến phà cũ, tổ 4 phường Nông tiến, TP Tuyên Quang
Email. drkhaitam@gmail.com
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN 1900.88.66.83